UY TÍN nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm rõ ràng CHẤT LƯỢNGđảm bảo độ an toàn cho sản phẩm GIÁ HỢP LÝquyền lợi tối đa cho khách hàng
[tintuc]

What are the skin lightening alternatives to hydroquinone? | Lab ...

Tên khác:Nonanedioic Acid
Chức năng:trị mụn kháng khuẩn điều chỉnh pH tẩy tế bào chết làm sáng da làm dịu
Thành phần siêu sao với đặc tính kháng khuẩn, kháng viêm, thanh tẩy và làm sáng da.
Đặc biệt hữu ích cho da dễ bị mụn trứng cá, đặc biệt là mụn nang và Rosacea.
Là thuốc theo toa ở Mỹ nhưng lại có thể được mua tự do ở EU với nồng độ lên tới 10%. Ở Việt Nam nó có trong Anzela, Megaduo và Dermaforte.
Ở một số nền da nhạy cảm, Azelaic Acid có thể làm da bị đỏ và gây nên cảm giác châm chích cho đến khi hoàn toàn thẩm thấu vào da.
Chi tiết
Azelaic acid (AzA) là một carboxylic acid được tìm thấy trong lúa mì và lúa mạch, có tác dụng điều trị mụn trứng cá thông qua khả năng tiêu diệt vi khuẩn gây viêm lỗ chân lông, bình thường hoá quá trình sừng hoá.

Ngoài ra, AzA còn có tác dụng điều trị tăng sắc tố da, giúp bề mặt da đều màu, mượt và trong hơn đồng thời giảm kích ứng da. Thành phần này phù hợp với mọi loại da, thậm chí còn được sử dụng để điều trị Rosacea.

1. Điều trị mụn
Tác dụng trị mụn của Azelaic Acid là nhờ vào những tác động của chất này lên cả bề mặt da và tới các vi khuẩn gây mụn.

Azelaic acid có khả năng hoạt động như một loại acid tẩy tế bào chết ở độ pH 4.9. Không chỉ thế, thành phần này còn ức chế sự sản sinh Keratinocytes và bình thường hoá quá trình biệt hoá biểu bì (quá trình chuyên môn hoá chức năng của tế bào) ở mụn trứng cá (Theo Bayer, nhà sản xuất ra Skinoren, một sản phẩm chứa AzA). Ngoài ra, AzA ức chế 5α-reductase - enzyme đóng vai trò xúc tác trong phản ứng thay đổi testosterone thành dạng hoạt động của nó - dihydrotestosterone, từ đó giúp giảm tỷ lệ acid béo tự do trong lớp màng lipid, từ đó giúp giảm bã nhờn, ngăn ngừa bí tắc lỗ chân lông.

Azelaic acid có khả năng giảm số lượng vi khuẩn Propionibacterium acnes, Staphylococcus aureus và Staphylococcus cholermidis gây mụn khác bằng cách ngăn chặn các enzyme ty thể oxy hoá, và ức chế sự tổng hợp protein của tế bào DNA và vi khuẩn, từ đó giảm nguồn thức ăn (bã nhờn) và ức chế sự phát triển của chúng. Thông qua việc kiểm soát số lượng vi khuẩn, tình trạng viêm của tuyến bã nhờn sẽ được cải thiện, da sẽ nhanh lành hơn.

Theo một nghiên cứu năm 2014 được đăng trên tạp chí Journal of the German Society of Dermatology, AzA 15% được đem ra so sánh với Benzoyl Peroxide 0.5% và Clindamycin 1 % (kháng sinh dạng bôi được sử dụng phổ biến trong điều trị mụn) trên mẫu 580 người trong thời gian 4 tháng. Kết quả ghi nhận được là Azelaic acid 15% có hiệu quả tương đương với BPO và clindamycin trong việc giảm tổn thương viêm, mức giảm trung bình lần lượt là 70% và 71%. Gel chứa AzA được dung nạp tốt, ít gây châm chích và kích ứng hơn so với BPO nhưng nhiều hơn so với clindamycin. Tuy nhiên, Clindamycin là kháng sinh, vì vậy khó sử dụng lâu dài hơn là Azelaic Acid.
Trong nghiên cứu so sánh AzA và Tretinoin năm 1989 kéo dài 6 tháng với 288 bệnh nhân, AzA 20% cho hiệu quả tương đương với Tretinoin 0.5 % đồng thời ít tác dụng phụ hơn. Ngoài ra có rất nhiều nghiên cứu về AzA ở các năm 1991, 1997, 2007, 2008 đã được thực hiện; đặc biệt là nghiên cứu năm 1986 so sánh AzA và tetracyline đường uống và nghiên cứu 2014 về mụn trường thành, cho thấy triển vọng về việc sử dụng hợp chất này để phòng ngừa và điều trị mụn.
Hơn thế, Azelaic Acid có khả năng điều trị cả mụn nang, loại mụn nặng và vô cùng khó xử lý, hiện đang tàn phá rất nhiều làn da phụ nữ Việt Nam. Hiệu quả này rất hiếm thấy ở các hợp chất trị mụn khác, kể cả Tretinoin.

Theo nghiên cứu của Gollnick vào năm 2001 trong 6 tháng, so sánh giữa 50 bệnh nhân sử dụng 20% AzA kết hợp với kháng sinh Minocycline đường uống và 35 bệnh nhân sử dụng isotretinoin (Retinoids đường uống), hiệu quả của tổ hợp Aza + Minocycline (giảm 70% vết mụn, 80% mụn mủ, 100% tổn thương da) thấp hơn so với Tretinoin (giảm 83% bí tắc, 97% mụn và mụn viêm, 100% tổn thương da) nhưng tác dụng phụ thì thấp hơn rất nhiều (gần 50%).
Bên cạnh đó, AzA có thể được dùng duy trì lâu dài trên da để tránh mụn tái phát.

2. Điều trị Rosacea
AzA được FDA phê duyệt là có khả năng điều trị Rosacea (mụn trứng cá đỏ).

Trong một nghiên cứu năm 2011, gel chứa AzA15% đã được chứng minh là có thể kiểm soát bệnh Rosacea sau khoảng thời gian 6 tháng, giảm đáng kể ban đỏ và tổn thương viêm. Trong những nghiên cứu khác năm 2009 và 2010, việc sử dụng kháng sinh kết hợp với gel Azelaic Acid 15% đã được chứng minh là làm tăng hiệu quả của việc điều trị Rosacea.
Trong quá trình nghiên cứu về các loại mụn, chúng tôi đã tìm hiểu về Rosacea, một dạng mụn phức tạp trên nền da rất nhạy cảm. AzA là một trong những hoạt chất được sử dụng để điều trị loại mụn này nhờ vào khả năng kháng viêm mà vẫn êm dịu với da nhạy cảm. Bất ngờ hơn, sau quá trình đào sâu nghiên cứu, chúng tôi đã nhận ra rằng AzA còn có khả năng trị mụn nang rất hiệu quả.

3. Bình thường hoá quá trình tăng sắc tố
Với người dân châu Á, nhất là ở những nơi có khí hậu nóng ẩm như Việt Nam, chúng tôi tin là ai cũng sợ Nám. Chẳng thế mà trị Nám luôn là liệu trình “hái ra tiền” ở các Spa, ngoại trừ Vân Spa. Nhưng về cơ bản, nám là quá trình tăng sắc tố bất thường bị chi phối bởi nhiều tác động cả bên trong và bên ngoài cơ thể, vì thế thực sự Nám gần như khó có thể trị hết được.

Nhắc đến trị nám thì phải kể tới Hydroquinone, một hợp chất trị nám nổi tiếng nhưng có thể gây ung thư da, đã bị cấm ở EU, Nhật Bản, Úc và chỉ được sử dụng ở liều tối đa 2% ở US, mức cao hơn chỉ được sử dụng dưới sự kiểm soát của bác sĩ. Ngoài ra, Hydroquinone dễ gây viêm và kích ứng nên không thích hợp để sử dụng ở nơi môi trường ẩm và bẩn kèm theo nền nhiệt cao như Việt Nam. Và AzA chính là cứu cánh trong trường hợp này.

Một nghiên cứu lớn đã được thực hiện với sự tham gia của 329 phụ nữ trong vòng 24 tuần để so sánh hiệu quả của AzA 20% và Hydroquinone 4%. Kết quả cho thấy AzA giúp cải thiện tăng sắc tố ở 65% bệnh nhân được điều trị và không có sự khác biệt về hiệu quả giữa các bệnh nhân điều trị AzA và Hydroquinone trong việc giảm kích thước và cường độ sắc tố trên da. Điểm khác biệt duy nhất là AzA không để lại tác dụng phụ nghiêm trọng như Hydroquinone khi sử dụng trong thời gian dài. Đây là một điểm rất quan trọng vì khi nền da yếu, dễ kích ứng thì nám sẽ dễ dàng tái phát.
4. Có khả năng chống lão hoá
Bằng cách ức chế hoạt động của bạch cầu trung tính, Aza ức chế sự sản sinh các gốc tự do và đóng vai trò là người dọn dẹp chúng. Vì vậy, nó có đặc tính chống lão hóa.

Kết luận
Vừa có khả năng kháng viêm, vừa bình thường hoá quá trình sừng hoá và có cả khả năng điều trị tăng sắc tố, AzA là thành phần đáng thử nhất cho da mụn, nhất là những bạn đang bị mụn viêm và thâm mụn kèm theo. AzA cũng có thể được coi là một sự lựa chọn tốt nếu bạn đang cần tìm một loại “treatment” mang tính điều trị “all-in one” mà không đòi hỏi hiệu quả quá nhanh và thần kì, vì dù tốt nhưng AzA lại không quá mạnh và cần thời gian sử dụng dài để phát huy hiệu quả.

Tham khảo
  1. Gollnick HP, Graupe K, Zaumseil RP. [Azelaic acid 15% gel in the treatment of acne vulgaris. Combined results of two double-blind clinical comparative studies]. J Dtsch Dermatol Ges. 2004 Oct;2(10):841-7
  2. Katsambas A, Graupe K, Stratigos J. Clinical studies of 20% azelaic acid cream in the treatment of acne vulgaris. Comparison with vehicle and topical tretinoin. Acta Derm Venereol Suppl (Stockh). 1989;143:35-9
  3. Vargas-Diez E, Hofmann MA, Bravo B, Malgazhdarova G, Katkhanova OA, Yutskovskaya Y. Azelaic acid in the treatment of acne in adult females: case reports. Skin Pharmacol Physiol. 2014;27 Suppl 1:18-25.
  4. Cavicchini S, Caputo R. Long-term treatment of acne with 20% azelaic acid cream. Acta Derm Venereol Suppl (Stockh). 1989;143:40-4
  5. Fitton A, Goa KL. Azelaic acid. A review of its pharmacological properties and therapeutic efficacy in acne and hyperpigmentary skin disorders. Drugs. 1991 May;41(5):780-98
  6. Gibson JR. Azelaic acid 20% cream (AZELEX) and the medical management of acne vulgaris. Dermatol Nurs. 1997 Oct;9(5):339-44
  7. Bladon PT, Burke BM, Cunliffe WJ, Forster RA, Holland KT, King K. Topical azelaic acid and the treatment of acne: a clinical and laboratory comparison with oral tetracycline. Br J Dermatol. 1986 Apr;114(4):493-9
  8. Thiboutot D. Versatility of azelaic acid 15% gel in treatment of inflammatory acne vulgaris. J Drugs Dermatol. 2008 Jan;7(1):13-6
  9. Iraji F, Sadeghinia A, Shahmoradi Z, Siadat AH, Jooya A. Efficacy of topical azelaic acid gel in the treatment of mild-moderate acne vulgaris. Indian J Dermatol Venereol Leprol. 2007 Mar-Apr;73(2):94-6
  10. Gollnick HP, Graupe K, Zaumseil RP. Comparison of combined azelaic acid cream plus oral minocycline with oral isotretinoin in severe acne. Eur J Dermatol. 2001 Nov-Dec;11(6):538-44
  11. Del Rosso JQ, Bhatia N. Azelaic acid gel 15% in the management of papulopustular rosacea: a status report on available efficacy data and clinical application. Cutis. 2011 Aug;88(2):67-72
  12. Thiboutot DM, Fleischer AB, Del Rosso JQ, Rich P. A multicenter study of topical azelaic acid 15% gel in combination with oral doxycycline as initial therapy and azelaic acid 15% gel as maintenance monotherapy. J Drugs Dermatol. 2009 Jul;8(7):639-48
  13. Del Rosso JQ, Bruce S, Jarratt M, Menter A, Staedtler G. Efficacy of topical azelaic acid (AzA) gel 15% plus oral doxycycline 40 mg versus metronidazole gel 1% plus oral doxycycline 40 mg in mild-to-moderate papulopustular rosacea. J Drugs Dermatol. 2010 Jun;9(6):607-13
  14. Baliña LM, Graupe K. The treatment of melasma. 20% azelaic acid versus 4% hydroquinone cream. Int J Dermatol. 1991 Dec;30(12):893-5
  15. Wójcik A, Kubiak M, Rotsztejn H. Influence of azelaic and mandelic acid peels on sebum secretion in ageing women. Postepy Dermatol Alergol. 2013;30(3):140-5.

[/tintuc]

SẢN PHẨM TƯƠNG TỰ

NHẬN XÉT

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét